MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC THỰC HÀNH SƯ PHẠM MÔN TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

Nghiên cứu đã xác lập cơ sở lí luận về năng lực thực hành sư phạm môn Tiếng Việt và tiến hành khảo sát thực trạng đào tạo tại Trường Đại học Đồng Tháp.

TÓM TẮT

Nghiên cứu được tiến hành trong bối cảnh đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhằm giải quyết khoảng trống giữa lí thuyết và thực tiễn trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn Tiếng Việt cho sinh viên sư phạm tiểu học.

Mục tiêu là phân tích thực trạng nhận thức và năng lực thực hành của sinh viên, bởi khảo sát đã chỉ ra tồn tại lỗ hổng kĩ năng trong việc chuyển đổi lí thuyết thành hành động thực tế.

Bài báo đề xuất hệ thống biện pháp thực tiễn, tập trung vào các năng lực cốt lõi như thiết kế kế hoạch bài dạy, ứng dụng công nghệ thông tin, xử lí tình huống sư phạm và tự đánh giá chất lượng giờ dạy nhằm hình thành phong cách dạy học tích cực, chuyên nghiệp.

Các biện pháp được xây dựng dựa trên nguyên tắc thực hành. Hệ thống biện pháp này là sự bổ sung kịp thời, giúp sinh viên phát triển tác phong và khả năng thực thi bài giảng linh hoạt, góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học, đáp ứng yêu cầu đổi mới.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Khái quát về năng lực thực hành sư phạm và phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Cơ sở lí luận về năng lực thực hành sư phạm Tiếng Việt và tiêu chí đánh giá

Năng lực thực hành sư phạm là tổng hòa của kiến thức, kĩ năng và thái độ sư phạm được hình thành thông qua quá trình rèn luyện NVSP thường xuyên. Theo Nguyễn Thị Hà Lan (2024), năng lực thực hành sư phạm là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng giáo dục.

Theo Phạm Thị Yến (2021), năng lực thực hành sư phạm của GVTH bao gồm ba nhóm năng lực cơ bản: năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực phát triển nghề nghiệp. Trong đó, năng lực dạy học môn Tiếng Việt đòi hỏi sự thành thạo trong việc triển khai các phương pháp dạy học tích cực, cá nhân hóa hoạt động học và sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực.

Các cấu phần cốt lõi của năng lực thực hành sư phạm môn Tiếng Việt bao gồm: (1) Kiến thức chuyên môn và lí luận dạy học: nắm vững cấu trúc CTGDPT 2018, đặc điểm trong từng hoạt động của môn Tiếng Việt (Đọc, Viết, Nói, Nghe); (2) Kĩ năng thiết kế hoạt động: biên soạn KHBD theo chuẩn Công văn 2345/BGDĐT-GDTH (2021), đảm bảo mục tiêu “Yêu cầu cần đạt” phải được cụ thể hóa bằng chuỗi hoạt động học tập; (3) Kĩ năng tổ chức và quản lí lớp học: khả năng duy trì kỉ luật, sử dụng ngữ điệu và ngôn ngữ cơ thể, đặc biệt là xử lí linh hoạt các THSP bất ngờ.

Các tiêu chí đánh giá giờ dạy hiện hành (áp dụng theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT) luôn tập trung vào hiệu quả tổ chức chuỗi hoạt động học, khả năng đánh giá quá trình HS và năng lực xử lí tình huống của GV (Hoàng Thị Tuyết, 2019). Do đó, sự thiếu hụt trong các kĩ năng thực hành này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của SV sư phạm.

2.1.2. Phương pháp, đối tượng và công cụ nghiên cứu

Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các phương pháp: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi, phương pháp chuyên gia. Thông qua các phương pháp này, đề tài nghiên cứu đã đảm bảo được tính toàn diện và nhận được kết quả có độ tin cậy cao, cụ thể như sau: Phân tích sâu các công trình nghiên cứu về rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, khung năng lực GVTH và các văn bản chỉ đạo của Bộ GD-ĐT để xây dựng cơ sở lí luận và tiêu chí đánh giá khoa học.

Khảo sát được tiến hành trực tiếp với 150 SV sư phạm tiểu học năm thứ 3 và 4 của Trường Đại học Đồng Tháp. Việc lựa chọn SV năm thứ 3 và 4 đảm bảo đối tượng đã hoàn thành hầu hết các học phần về nghiệp vụ và chuyên môn, có đủ cơ sở để tự đánh giá năng lực thực hành của bản thân. Bên cạnh đó, tôi tham vấn ý kiến 05 giảng viên (GgV) trong và ngoài khoa về chương trình rèn luyện sư phạm tiểu học và 05 GV dạy giỏi ở phổ thông để xây dựng, đánh giá tính khả thi và độ sâu của các biện pháp đề xuất.

Tác giả: Tô Ngọc Sơn+, Lê Thị Mai An/ Nguồn: Tạp Chí Giáo Dục

Để lại một bình luận