Những ngôn ngữ Sài Gòn vay mượn từ tiếng Pháp

Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng có một khoảng thời gian bị giặc Pháp đô hộ. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội của người Việt. 

Những đại danh từ nhân xưng:

toa (anh, mày – toi),

moa hay mỏa (tôi, tao – moi),

en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle),

lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui),

xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)…

Câu nói mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải đái trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Những danh từ chỉ đồ vật

đường ray (rail)

bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác.

bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

cao su (caoutchouc)

kẹo cao su (chewing-gum)

bao cao su (còn gọi là “áo mưa” dùng để tránh thai hoặc tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục)…

Nhà băng (banque)

xà bông (savon)

Những từ chỉ thức ăn, nước uống

mơ-nuy (thực đơn – menu)

bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak)

bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon)

rượu vang (rượu nho – vin)

xúc-xích (saucisse)

pa-tê (paté)

giăm-bông (jambon)

thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet)

Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)

tiền boa: puộc-boa (tiền thưởng – pourboire)

bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette)

bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud)

bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant)

ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat)

trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette)

hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

cà phê (café)

cái phin (filtre à café)

Những danh từ chỉ quần áo

áo sơ-mi (chemise)

cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette)

áo vét (vest)

hay bộ vét-tông (veston)

chiếc cà-vạt (cravate)

chiếc gi-lê (gilet)

và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Phụ nữ trên thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge)

dưới thì có xì-líp (slip).

áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi

Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture)

và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

cô-tông (vải bông – coton)

hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine)

Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ)

mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)…

đôi dép săng-đan (sandales)

sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

giày săng-đá (giày của lính – soldat)

Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando).

Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!).

Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus.

mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui)

sen đầm (gendarme)

phú-lít (police)

ông cò (commissaire)

lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane),

Những ngôn ngữ Sài Gòn chỉ nông phẩm

đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert),

đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois)

bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur)

xà lách (salade)

cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson)

cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)

Những từ về âm nhạc

Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)

Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing)

ọc-két (ban nhạc – orchestre)

ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Những ngôn ngữ Sài Gòn nói về thức ăn vặt

bơ (beurre)

pho-mát (fromage)

kem (crème)

sữa Ông Thọ (Longevity)

và Con Chim (Nestlé)

tuổi thọ (longévité)

chủ tiệm “chạp phô”

Núi Trắng (Lait Mont-Blanc)

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”

Những ngôn ngữ Sài Gòn về đồ dùng máy móc

chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile)

Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle)

đề-ma-rơ (khởi động – démarreur).

Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur)

vô-lăng (bánh lái – volant)

cờ-lê (chìa vặn – clé)

mỏ-lết (molete)

đinh vít (vis)

tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis)

công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur)

công tắc (cầu dao – contact)…

guy-đông (thanh tay lái – guidon)

pê-đan (bàn đạp – pedale)

săm (ruột bánh xe – chambre à air)

bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

dây sên (dây xích – chaine)

líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre)

phanh (thắng – frein)

gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue)

gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

ống bơm (pompe)

chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). 

“tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Ngọc Sơn (tổng hợp)